Trang chủ‎ > ‎Tin môi trường‎ > ‎

Luật hóa để giám sát và ngăn ngừa sai phạm môi trường

Luật BVMT 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có bước tiến trong quy định, được kỳ vọng sẽ trao quyền nhiều hơn cho người dân và các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp trong việc tiếp cận thông tin và dữ liệu về môi trường từ các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp.

Luật đã quy định rõ

Luật BVMT 2014 được xem là bước tiến quan trọng để nước ta tiếp tục nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường giai đoạn mới. Luật BVMT 2014 thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền của mọi người dân được sống trong môi trường trong lành.

luat-bao-ve-moi-truong

Trong đó, quyền tiếp cận thông tin được cụ thể hóa trong những quy định của Luật BVMT 2014. Luật đã trao thêm quyền yêu cầu cung cấp thông tin cho các tổ chức  chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Ngoài ra, nhằm khuyến khích người dân tham gia nhiều hơn trong công tác BVMT, đại diện của cộng đồng dân cư cũng có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở đóng trên địa bàn mình. Cơ chế tham vấn trong quá trình thực hiện báo cáo ĐMC, ĐTM ngày càng hoàn thiện cũng là cơ sở pháp lý cho sự tham gia và tiếp cận thông tin môi trường của cộng đồng và các tổ chức liên quan ở Việt Nam.

Điều 131 Luật BVMT 2014 chỉ rõ, có 5 nhóm thông tin môi trường phải được công khai là ĐMC, ĐTM và kế hoạch BVMT; thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải; khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; các báo cáo về môi trường và kết quả thanh tra, kiểm tra về BVMT. Tuy nhiên, nếu “các thông tin quy định tại khoản này mà thuộc danh mục bí mật nhà nước thì không được công khai”.

Tiếp đó, nghị định 19/2015 của Chính phủ quy định một số điều của Luật BVMT đã cụ thể hóa các hình thức cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng dân cư bằng tài liệu, ấn phẩm, xuất bản phẩm phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng; trang thông tin điện tử chính thức của cơ quan quản lý, chủ đầu tư, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; niêm yết công khai tại cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, trụ sở UBND cấp xã; họp báo công bố công khai; họp phổ biến cho cộng đồng dân cư; các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Các chuyên gia đánh giá, việc thông tin được cung cấp một cách chính thức, kịp thời sẽ giúp người dân tránh tiếp nhận những thông tin sai lệch, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, kinh doanh.

Xây dựng cơ chế dân chủ trong BVMT

Trên tinh thần của quy chế dân chủ, Điều 144, 145, 146 Luật BVMT 2014 đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc thực hiện cơ chế dân chủ trong BVMT. Theo đó, người dân có quyền được tiếp cận với mọi thông tin liên quan đến tình trạng vi phạm BVMT ở địa phương. Quy định này là cơ sở pháp lý để người dân và tổ chức cộng đồng địa phương thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát hiệu quả công tác BVMT.

Đáng chú ý, Điều 83 của Luật đã xác lập quyền lập hội trong giám sát BVMT của cộng đồng và người dân. Các hội này chính là các tổ chức tự quản về BVMT, hay nói cách khác là các tổ chức xã hội dân sự trong BVMT. Thuật ngữ “tổ chức tự quản về BVMT” trong Luật được sử dụng với nội hàm chính là các tổ chức xã hội (TCXH) dân sự, bao gồm các cộng đồng tự quản của người dân ở địa phương hay các cá nhân, nhóm người có chung một mục tiêu BVMT và tự tập hợp nhau lại thành tổ chức dựa trên nguyên tắc tự nguyện và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật.

Với tư cách là những cộng đồng tự quản ở địa phương mà thành viên đều là lực lượng nhân dân, các TCXH đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện, tố giác những sai phạm về BVMT. Nhiều tổ chức cộng đồng ở địa phương đã và đang làm tốt vai trò này như vụ phát hiện vi phạm tại Công ty Tung-Kuang ở Hải Dương, Nicotex Thanh Thái ở Thanh Hóa … Bên cạnh vai trò phát hiện, tố giác, các TCXH cũng có vai trò tư vấn, khuyến nghị về các vấn đề liên quan đến môi trường.

Vai trò này được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật BVMT 2014. Điều 150, 157 của Luật nêu rõ các tổ chức, cá nhân đều được khuyến khích thúc đẩy phát triển dịch vụ BVMT với chức năng tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường. Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng của cơ chế dân chủ trong BVMT, các TCXH không chỉ phản ánh đơn thuần về những vi phạm đối với pháp luật BVMT mà còn đưa ra những kiến nghị, đề xuất cho việc xử lý và giải quyết các vấn đề đó.

Với vai trò thứ ba – kiểm tra, giám sát, Luật BVMT 2014 cũng quy định rõ: Nhà nước cần “tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động BVMT; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động BVMT theo quy định của pháp luật” (Điều 5). Đặc biệt, khoản  Điều 83 nêu rõ “Tổ chức tự quản về môi trường có nhiệm vụ tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ rên địa bàn”. Do vậy, vai trò của cộng đồng dân cư nói chung, TCXH và tổ chức tự quản về môi trường nói riêng trong việc kiểm tra, giám sát là hết sức quan trọng và là yêu cầu bắt buộc trong suốt quá trình triển khai, vận hành dự án.