Tin mới


Nước thải của DN sản xuất giấy nhiều thông số vượt chuẩn

đăng 20:15, 26 thg 3, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 20:16, 26 thg 3, 2020 ]

    Kết quả phân tích của cơ quan chức năng cho thấy, quá trình sản xuất giấy, Công ty TNHH Long Huy Hùng Đắk Nông đã xả thải ra môi trường với nhiều thông số vượt quá quy định. Trước đó, vào cuối tháng 2, đầu tháng 3, cơ quan chức năng phối hợp với chính quyền địa phương đã kiểm tra cơ sở sản xuất của Công ty Long Huy Hùng Đắk Nông.
Khu vực sản xuất giấy

    Quá trình kiểm tra phát hiện doanh nghiệp này đã xả thải trực tiếp ra môi trường, khiến dòng nước ở ở khe suối chuyển màu đen, cá nuôi ở ao, hồ bị chết.

    Để có cơ sở xử lý, lực lượng chức năng đã yêu cầu Công ty Long Huy Hùng Đắk Nông tạm dừng sản xuất. Đồng thời lấy mẫu nước tại 3 vị trí gồm: nước thải đầu vào, nước thải đầu ra sau hệ thống xử lý nước thải sản xuất giấy và điểm nước thải tại hồ tiếp nhận để phân tích.

    Kết quả phân tích cho thấy, nguồn nước thải của Công ty Long Huy Hùng Đắk Nông có nhiều thông số vượt quá nhiều lần so với quy định, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong đó, một số thông số chủ yếu như TSS (tổng chất rắn lơ lửng) vượt hơn 8 lần; BOD (lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật ôxy hóa các chất hữu cơ-chỉ tiêu BOD cao thì nguồn nước bị ô nhiễm chất hữu cơ nặng) vượt 20,7 lần; COD (lượng ôxy cần thiết để ôxy hoá các hợp chất hoá học trong nước) vượt 10,3 lần. Theo đó, các thông số trên vượt quá quy định càng cao thì nguồn nước càng ô nhiễm nặng và khó xử lý.

    Hiện, cơ quan chức năng đang hoàn thiện các thủ tục cần thiết để xử lý hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường đối với doanh nghiệp trên.
Nước thải xả thải ra môi trường

    Trước đó, hàng chục hộ dân thôn 7, xã Đắk Ha (Đắk G’long) đứng ngồi không yên khi phát hiện dòng nước ở khe suối đột ngột đổi màu đen. Người dân khẳng định, nguồn nước có màu lạ này xuất phát từ khu vực sản xuất của Công ty TNHH MTV Long Huy Hùng Đắk Nông. Quá trình kiểm tra hiện trường cho thấy, sau khi sản xuất, tái chế giấy bằng một quy trình bẩn, độc hại, Công ty Long Huy Hùng Đắk Nông đã ngang nhiên xả toàn bộ chất thải độc hại ra môi trường.

    Đứng gần khu vực sản xuất, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, xen lẫn mùi khét, hắc của hóa chất. Điều đáng nói, trong khi chờ kết quả phân tích mẫu nước, lực lượng chức yêu cầu doanh nghiệp tạm dừng sản xuất, tuy nhiên doanh nghiệp này cố tình không chấp hành, vẫn tổ chức sản xuất và xả thải ra môi trường.

    Nguồn: www.moitruongvadothi.vn/moi-truong/tin-nhanh-moi-truong/nuoc-thai-cua-dn-san-xuat-giay-nhieu-thong-so-vuot-chuan-a66568.html

Ô nhiễm môi trường nước và công nghệ xử lý

đăng 20:13, 17 thg 3, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 20:14, 17 thg 3, 2020 ]

    Nhận rõ tài nguyên nước đã và đang bị suy thoái do các nguồn thải ngày càng gia tăng trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, ngay từ năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 88/2007 về thoát nước đô thị và khu công nghiệp. Tiếp đó là Nghị định 80/2014 về thoát nước và xử lý nước thải được sửa đổi theo Nghị định 38/2015 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7957:2008.

Xử lý nước thải tập trung

    Trường hợp khi nước thải của các đơn vị, doanh nghiệp chứa các chất đặc thù, hay có nồng độ vượt quá ngưỡng quy định đối với nước thải đầu vào của nhà máy xử lý nước thải tập trung, trách nhiệm xử lý nước thải cục bộ thuộc về đơn vị, doanh nghiệp… 

    Đa dạng hóa các giải pháp xử lý nước thải đô thị

    Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Phạm Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm Môi trường đô thị và công nghiệp cho biết, tính đến hết năm 2018, cả nước có 48 nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các đô thị, với công suất thiết kế 1,3 triệu m3/ngày đêm, nhưng thực tế đưa vào vận hành xử lý được 1,102 triệu m3/ngày đêm. Các nhà máy ứng dụng 7 công nghệ chủ yếu là: hồ sinh học, xử lý nước thải theo chuỗi hồ sinh học, lọc sinh học, bùn hoạt tính truyền thống, kênh ôxy hóa tuần hoàn, sinh học kỵ khí - hiếu khí, xử lý kỵ khí - hiếu khí - thiếu khí, bể phản ứng theo mẻ tiên tiến.

    Đây là các công nghệ đang tồn tại trên các đô thị loại đặc biệt và đô thị loại I, II và III ở Việt Nam. Trường hợp ngoại lệ là Nhà máy Xử lý nước thải Sóc Sơn (thành phố Hà Nội) chỉ áp dụng công nghệ xử lý cơ học. Công nghệ hồ sinh học có làm thoáng là công nghệ tương đối đơn giản, được áp dụng cho các nhà máy xử lý nước thải ở đô thị Bình Hưng Hòa (Thành phố Hồ Chí Minh), công suất 30.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý thải thành phố Phan Rang- Tháp Chàm (tỉnh Ninh Thuận) có công suất 5.000 m3/ngày đêm. Công nghệ hồ sinh học kỵ khí có phủ bề mặt được áp dụng tại các nhà máy xử lý nước thải của thành phố Đà Nẵng là Hòa Cường công suất 40.000 m3/ngày đêm, Phú Lộc công suất 40.000 m3/ngày đêm và Sơn Trà công suất 16.000 m3/ngày đêm.


    Công nghệ kênh ôxy hóa tuần hoàn được áp dụng ở Nhà máy xử lý nước thải thành phố Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) 2.500 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải thành phố Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) 40.000 m3/ ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Canh Đôi - Phú Mỹ Hưng (Thành phố Hồ Chí Minh) có công suất 10.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải thành phố Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang) có công suất 10.000 m3/ ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) 30.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Thanh Châu (thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) công suất 5.000 m3/ngày đêm; Nhà máy xử lý nước thải Bắc Châu Giang (thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) công suất 1.500 m3/ngày đêm.

    Qua hơn chục năm vận hành cho thấy, nồng độ nước thải đầu vào của những nhà máy xử lý nước thải ở các đô thị đều thấp hơn nhiều so với số liệu thiết kế ban đầu. 3 trong số 35 nhà máy xử lý nước thải tập trung đang hoạt động, tiếp nhận nước thải từ hệ thống thoát nước riêng, là Nhà máy xử lý nước thải tại thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), thành phố Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) có nồng độ nhu cầu ôxy hóa học 560 - 600mg/lít; tổng nito 90 - 95mg/lít. Số còn lại 32 nhà máy tiếp nhận nước thải từ hệ thống thoát nước chung nửa riêng. Nước thải đầu vào các nhà máy này có nồng độ thấp, nhu cầu ôxy sinh hóa trung bình khoảng 31 - 135mg/lít, nhu cầu ôxy hóa học 60 - 230mg/lít, tổng nito 11 - 40mg/lít. Đây là xu hướng rất cần thiết, mang tính đa dạng hóa các giải pháp vệ sinh môi trường.

    Công nghệ áp dụng tại khu, cụm công nghiệp

    Công nghệ xử lý nước thải ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp khá đa dạng, song chủ yếu xử lý nước thải tập trung theo 3 công nghệ chính yếu. Đó là Công nghệ truyền thống xử lý sinh học bằng bùn hoạt tính: Nước thải sau xử lý đáp ứng yêu cầu xả vào nguồn nước mặt loại B (nhu cầu ôxy sinh hóa của nước thải đầu ra từ 30 - 50mg/lít). Các Nhà máy xử lý nước thải tập trung công nghiệp Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), Bắc Thăng Long (thành phố Hà Nội), Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh), Suối Dầu (tỉnh Khánh Hòa), Tân Tạo (Thành phố Hồ Chí Minh)… đang áp dụng công nghệ này.

    Thứ hai là Công nghệ xử lý nước thải với quá  trình xử lý sinh học hiếu khí bằng hệ vi sinh vật sinh trưởng, dính bám, hợp khối với các công trình xử lý khác trong hệ thống xử lý. Công nghệ này được áp dụng tại Nhà máy xử lý nước thải Khu Công nghiệp Hòa Khánh (thành phố Đà Nẵng), Việt Nam-Singapo (tỉnh Bình Dương)…

    Thứ ba là Công nghệ xử lý nước thải sinh học bằng bùn hoạt tính thổi khí kéo dài, trong các công trình như aeroten trộn thổi khí kéo dài, bể xử lý theo mẻ, kênh ôxy hóa tuần hoàn, hệ kỵ khí - thiếu khí - hiếu khí. Công nghệ này được áp dụng cho phần lớn các Khu Công nghiệp như: Thụy Vân (tỉnh Phú Thọ), Tân Thuận, Linh Trung (Thành phố Hồ Chí Minh), Phú Mỹ I (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu).

    Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tổng số các khu công nghiệp, có 214 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động (chiếm 87%) xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung có tổng công suất thiết kế 820.000 m3/ngày đêm. Trong khi đó, tổng lượng nước thải phát sinh trong các khu công nghiệp này khoảng 557.000 m3/ngày đêm. Tuy vậy, vẫn tồn tại tình trạng một số khu công nghiệp có tỷ lệ đấu nối thấp như Khu Công nghiệp Đình Hương và Khu Công nghiệp Lễ Môn (tỉnh Thanh Hóa). Tại Khu Công nghiệp Lễ Môn, chỉ có 9/26 doanh nghiệp thực hiện đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tại Khu Công nghiệp Đình Hương, cả 91 cơ sở doanh nghiệp đang hoạt động đều không thực hiện đấu nối.

    Thực hiện Thông tư 35/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về lắp đặt các hệ thống quan trắc tự động để giám sát hệ thống xử lý nước thải, đến nay, các tỉnh, thành phố: Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng đã có những khu công nghiệp lắp đặt hệ thống quan trắc tự động đối với các hệ thống xử lý nước thải tập trung.

    Xử lý nước thải chăn nuôi và nước rỉ rác

    Đề cập về công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi hiện nay, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hiếu Nhuệ, Viện trưởng Viện Kỹ thuật nước và Công nghệ môi trường cho biết có 5 loại hình quy trình điển hình được áp dụng để xử lý nước thải trong các trang trại chăn nuôi. Đó là thải nước thải chăn nuôi trực tiếp ra kênh mương; nước thải có thể lẫn phân hay được tách phân xử lý bằng hồ kỵ khí có phủ bạt, sau đó qua ao sinh thái rồi mới thải ra môi trường; xử lý qua hầm biogas (chiếm tới 50% tổng số trang trại chăn nuôi tập trung), rồi mới thải ra môi trường;  nước thải lẫn phân hoặc đã tách phân xử lý bằng hầm biogas, được xử lý tiếp bằng ao, hồ sinh học-công nghệ này chiếm 25% tổng số trang trại chăn nuôi. Một công nghệ nữa xử lý nước thải chăn nuôi là bằng ổn định kỵ khí, tiếp đó được xử lý bằng phương pháp lọc sinh học kỵ khí hay aeroten, cuối cùng qua hồ thực vật thủy sinh.

    Về xử lý nước rỉ rác tại các bãi chôn lấp, công nghệ áp dụng tùy thuộc điều kiện cụ thể từng địa phương và nếu xử lý riêng biệt, bao gồm 3 khối là bể điều hòa xử lý sơ bộ; xử lý sinh học để loại bỏ các hợp chất hữu cơ; xử lý bằng phương pháp hóa học kết hợp hóa lý. Các quá trình áp dụng là ôxy hóa - khử, keo tụ - kết tủa, lọc qua lớp vật liệu, vi lọc, thẩm thấu ngược, hấp thụ…

    Hiện các trạm xử lý nước rỉ rác tại bãi chôn lấp thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Thái Nguyên, Hạ Long, Đà Nẵng, Huế, Đồng Hới, Quy Nhơn… đều áp dụng công nghệ hóa học và sinh học kết hợp. Riêng trạm xử lý nước rỉ rác tại bãi chôn lấp Lương Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa sau xử lý được bơm về xử lý chung với nước thải của thành phố này.

    Nguồn: baotintuc.vn/xa-hoi/o-nhiem-moi-truong-nuoc-va-cong-nghe-xu-ly-bai-cuoi-hien-trang-xu-ly-cac-nguon-nuoc-thai-20200306112024768.htm

Xử lý nước thải bằng Nano sắt có hàm lượng kim loại nặng cao

đăng 21:09, 10 thg 3, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 21:09, 10 thg 3, 2020 ]

    Mục tiêu của đề tài nhằm xác định tính khả thi của việc ứng dụng các chế phẩn nano sắt xử lý nguồn thải có hàm lượng kim loại nặng cao trong ngành khai thác Than - Khoáng sản. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của ngành khai thác Than - Khoáng sản, Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin đã đề nghị và được Bộ Công Thương giao chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm nano sắt để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao”.

    Mục tiêu của đề tài nhằm xác định tính khả thi của việc ứng dụng các chế phẩn nano sắt xử lý nguồn thải có hàm lượng kim loại nặng cao trong ngành khai thác Than - Khoáng sản. Đối với ngành khai khoáng của Việt Nam, nguồn phát sinh nước thải công nghiệp là một trong những yếu tố gây ô nhiễm chính. Hàng năm các mỏ khai thác than vùng Quảng Ninh xả thải ra môi trường khoảng trên 100 triệu m3 nước thải. Nước thải từ quá trình khai thác và chế biến (tuyển khoáng, luyện kim) thường bị ô nhiễm bởi độ pH, hàm lượng cặn lơ lửng cao và đặc biệt có hàm lượng các kim loại nặng vượt tiêu chuẩn xả thải cho phép (Fe, Mn, Cu, Pb…). Hiện tại các mỏ than và chế biến khoáng sản của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cơ bản đã có hệ thống xử lý nước thải mỏ.

    Công nghệ xử lý nước thải chủ yếu áp dụng phương pháp trung hòa bằng sữa vôi, lắng cặn lơ lửng và kết hợp bể lọc cát để khử các kim loại còn dư trong nước trước khi xả thải ra môi trường. Hiện nay công nghệ xử lý trên đã đáp ứng được yêu cầu của chất lượng nước xả thải sau xử lý. Tuy nhiên, đối với những nguồn thải có hàm lượng kim loại nặng cao (chủ yếu từ các nhà máy tuyển khoáng, nhà máy luyện kim) việc xử lý tiêu tốn nhiều hóa chất và quy trình xử lý phức tạp cần chia thành nhiều bậc (tăng dần độ pH để khử các kim loại nặng, hạ độ pH bằng axít để đạt tiêu chuẩn trước khi xả thải). Do đó, việc nghiên cứu ứng dụng vật liệu mới để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại cao nhằm cải tiến quy trình xử lý nước và giảm chi phí vận hành và là nhiệm vụ cấp thiết trong ngành khai thác Than – Khoáng sản.

he-thong-xu-ly-nuoc-thai-cua-lo-nghe-an

    Nghiên cứu ứng dụng vật liệu mới để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại cao nhằm cải tiến quy trình xử lý nước và giảm chi phí vận hành là một trong những nhiệm vụ cấp thiết trong ngành khai thác Than – Khoáng sản hiện nay. Ở Việt Nam những năm vừa qua, công nghệ nano đang được nghiên cứu và ứng dụng ngày một phổ biến, đây là hướng công nghệ phát triển mới, hứa hẹn sẽ là xu hương phát triển của công nghệ trong tương lai.

    Đến nay, TS. Lê Bình Dương - chủ nhiệm đề tài, cùng các cộng sự đã hoàn thành đầy đủ các nội dung như đã đăng ký trong thuyết minh đề tài được duyệt và hợp đồng nghiên cứu khoa học công nghệ đã ký kết, có thể liệt kê những nội dung chính sau đây:

    1.Đề tài đã tiến hành đánh giá, tổng hợp thực trạng xử lý nước thải mỏ của ngành công nghiệp khai khoáng tại Việt Nam. Nhận diện được các nguồn thải có hàm lượng kim loại nặng (đối với nước thải từ hoạt động khai thác than là Fe, Mn; đối với nước thải từ hoạt động chế biến khoáng sản là Fe. Mn, Cu, Pb). Phân tích công nghệ xử lý nước thải hiện tại nhận thấy: quy trình xử lý nước thải từ hoạt động chế biến khoáng sản hiện nay tiêu tốn nhiều hóa chất và vận hành phức tạp, chi phí cao. Do đó cần định hướng thay đổi công nghệ theo hướng sử dụng vật liệu mới để xử lý triệt để các kim loại nặng, giảm chi phí hóa chất xử lý nước thải.

    2.Đã nêu được tổng quan về ứng dụng công nghệ nano trong nước và ngoài nước, đặc biệt là công nghệ nano trong xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao. Từ đó góp phần quan trong cho việc nghiên cứu đề xuất ứng dụng công nghệ nano để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao trong ngành công nghiệp khai khoáng tại Việt Nam.

    3.Đề tài đã nghiên cứu các chế phẩm nano ứng dụng để xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao là:

    - Công nghệ NanoVAST (tổ hợp vật liệu giữa oxit sắt từ kích thước nano với carbon hoạt tính trên nền montmorillonite (NC-F20) và vật liệu xúc tác oxy hóa hấp phụ nanocomposite oxit phức hợp Mn-Fe (NC-MF)) có khả năng hấp phụ cả hai dạng As(III) và As(V) và các ion khác như Cu, Pb, Hg, Cr, tốc độ hấp phụ tương đối cao (20 phút tiếp xúc).

    - Chế phẩm tổ hợp nano kim loại hóa trị 0 trên nền vật liệu nano sắt (NZVI) để xử lý nước bị ô nhiễm BOD, COD, Ni tơ, Phốt pho, các kim loại nặng như: Chì, asen, crom, đồng, sắt v.v... Sau khi phân tích các đặc điểm và quy trình xử lý nước thải của chế phẩm NanoVAST và chế phẩm tổ hợp nano kim loại hóa trị 0 trên nền vật liệu nano sắt (NZVI), đề tài lựa chọn chế phẩm tổ hợp nano kim loại hóa trị 0 trên nền vật liệu nano sắt (NZVI) để áp dụng xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao trong công nghiệp khai khoáng tại Việt Nam hiện nay.

    4.Đề tài đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng (pH, hàm lượng nano sắt, thời gian phản ứng) đến khả năng xử lý nước thải có hàm lượng kim loại nặng cao (Fe, Mn, Cu, Pb) trên các mẫu đơn lẻ, các mẫu tổ hợp và các mẫu nước thải thực tế của ngành công nghiệp khai thác khoáng sản tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, với pH = 7÷7,5, thời gian phản ứng khoảng 10 phút, hàm lượng nano sắt 0,01 ml/ lít nước thải, thì khả năng xử lý các kim loại Fe, Cu, Pb đạt trên 90%, hàm lượng các kim loại sau xử lý đều đạt QCVN 40:2011 - BTNMT (B). Tuy nhiên, khả năng xử lý Mn đạt tối đa 40 %, phần lớn các mẫu có hàm lượng Mn sau xử lý không đạt QCVN 40:2011 - BTNMT (B). Với pH = 8,5 khả năng xử lý Mn đạt 80 %, với các mẫu đầu vào lượng Mn < 6 mg/l, hàm lượng Mn sau xử lý đạt QCVN 40:2011 - BTNMT (B).

    5.Qua các thí nghiệm trên mẫu thí nghiệm và mẫu thực tế, đề tài đã phân tích và lựa chọn ứng dụng chế phẩm tổ hợp nano kim loại hóa trị 0 trên nền vật liệu nano sắt (NZVI) để xử lý nước thải từ hoạt động chế biến khoáng sản có hàm lượng kim loại nặng cao (Fe, Mn, Cu, Pb) sẽ có hiệu quả về khả năng xử lý các kim loại nặng, phù hợp với công nghệ hiện có, và giảm thiểu chi phí hóa chất so với hiện tại. Đề tài đã đề ra sơ đồ công nghệ cải tiến, để xử lý nước thải từ hoạt động chế biến khoáng sản có hàm lượng kim loại nặng cao (Fe, Mn, Cu, Pb) và phân tích chi phí vận hành xử lý nước thải.

Sân bay Long Thành: Đồng Nai điều chỉnh cục bộ quy hoạch khu dân cư phục vụ tái định cư cho dự án

đăng 19:27, 28 thg 2, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 19:28, 28 thg 2, 2020 ]

    UBND tỉnh Đồng Nai vừa phê duyệt quyết định điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Phân khu III – Khu dân cư, tái định cư xã Bình Sơn, huyện Long Thành. Cụ thể, tại Quyết định số 527/QĐ-UBND ngày 24/2/2020 do Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Cao Tiến Dũng ký ban hành điều chỉnh 3 nội dung chính.

    Một là, mặt cắt ngang đường ĐT769, lộ giới giữ nguyên theo quy hoạch được duyệt 45m, gồm: Mặt đường 15 m (mặt đường hiện hữu 11,5 m), vỉa hè và dải cây xanh hai bên 15 m x 2.

    Hai là, đường song hành ĐT769 phía khu tái định cư: Mặt đường 10,5 m, vỉa hè 6 m; dải cây xanh tiếp giáp chỉ giới đường ĐT769 khoảng 0,3 đến 0,5 m.

    Ba là, điều chỉnh cote san nền: Cote cao độ san nền Phân khu III khu vực tiếp giáp đường ĐT769 lấy theo cote cao độ san nền của đường song hành khoảng từ 33.75 m – 56.10 m.

san-bay-Long-Thanh
Sân bay Long Thành

    Trước đó, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 3718/QĐ-UBND ngày 17/12/2012 phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu dân cư, tái định cư tại xã Bình Sơn, huyện Long Thành (phân khu III) và các Quyết định số 460/QĐ-UBND ngày 13/2/2015, số 2009/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của UBND tỉnh Đồng Nai về duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Phân khu III - Khu dân cư, tái định cư xã Bình Sơn, huyện Long Thành.

    Cần nhắc lại rằng, dự án Khu dân cư, tái định cư xã Bình Sơn là một dự án có tính chất quan trọng phục vụ công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư cho dự án trọng điểm quốc gia, Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Dự án này bao gồm 1.539 lô đất, diện tích đất dao động từ 80 - 300 m2.

    Trong một diễn biến liên quan UBND tỉnh Đồng Nai vừa có báo cáo (số 1741/BC-UBND ngày 24/2/2020) gửi Thủ tướng Chính phủ về tiến độ triển khai xây dựng 2 khu tái định cư thuộc dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Thông tin đáng chú nhất trong báo cáo trên đây là UBND tỉnh Đồng Nai cam kết với Thủ tướng Chính phủ sẽ khởi công dự án Khu tái định cư Cảng hàng không quốc tế Long Thành trong tháng 4 năm 2020.

    Về lý do chậm triển khai hạ tầng 2 khu tái định cư, UBND tỉnh Đồng Nai cho rằng: Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 1487/QĐ-TTg (ngày 06/11/2018) ngay lập tức tỉnh Đồng Nai đã ban hành Kế hoạch số 13435/KH-UBND (ngày 06/12/2018) trong đó xác định tiến độ công việc và phân công cụ thể cho từng Sở, ngành, đơn vị có liên quan.

    Hàng tuần, các lãnh đạo UBND đều nghe báo cáo cụ thể công việc để chỉ xử lý các vướng mắc cũng như đôn đốc tiến độ phần công việc. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện phát sinh một số vấn đề khó khăn đòi hỏi cần phải có thời gian để xử lý như: Điều chỉnh tuyến thoát nước thải ngoài ranh Khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn, điều chỉnh Tuyến nước thải và xử lý nước thải Khu tái định cư dẫn đến điều chỉnh Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Báo cáo nghiên cứu khả thi, phát sinh khối lượng gói thầu tư vấn lập hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, kéo dài thời gian triển khai lập hồ sơ dự án.

    Thêm nữa là vấn đề thay đổi nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng cũng tác động đến việc triển khai của dự án. Cụ thể, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2019/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng có hiệu lực ngày 01/10/2019 và Bộ Xây dựng ban hành 10 Thông tư hướng dẫn có hiệu lực từ ngày 15/2/2020. Mặc dù Bộ Xây dựng có văn bản số 2639/BXD-KTXD ngày 07/11/2019 đồng tình với kiến nghị của UBND tỉnh Đồng Nai cho xử lý theo đơn giá và định mức theo Nghị định 32/2015/NĐ-CP ban hành ngày 25/3/2015 của Chính phủ. Tuy nhiên, qua rà soát có một số định mức, chi phí quy định tại Nghị định 32/2015/NĐ-CP cao hơn quy định tại Nghị định số 68/2019/NĐ-CP.

    Hơn nữa, để ban hành định mức và đơn giá theo quy định Nghị định số 68/2019/NĐ-CP phải mất thời gian từ 3 đến 5 tháng nên kéo dài thời gian lập dự toán các dự án thành phần có cấu phần xây dựng.

    Báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Đồng Nai cũng nêu: tỉnh đã tích cực và chủ động trong công tác lập, thẩm định, phê duyệt triển khai 4 dự án thành phần có cấu phần xây dựng thuộc 2 Khu tái định cư: Lộc An – Bình Sơn và Phân khu 3, Khu tái định cư Bình Sơn.

    Để đảm bảo tiến độ, UBND tỉnh Đồng Nai sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo triển khai 2 Khu tái định cư phục vụ di dời dân dự án sân bay Long Thành và kiên quyết xử lý kỷ luật các tổ chức, cá nhân để ảnh hưởng tiến độ chung dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Đồng thời cam kết khởi công dự án Khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn trong tháng 4/2020, hoàn thành hạ tầng trong năm 2020 để di dời các hộ dân thuộc giai đoạn 1 dự án (1.810 ha), bàn giao mặt bằng để khởi công xây dựng (giai đoạn 1) sân bay Long Thành vào đầu năm 2021.

    Nguồn: dautubds.baodautu.vn/dong-nai-dieu-chinh-cuc-bo-quy-hoach-khu-dan-cu-phuc-vu-tai-dinh-cu-cho-du-an-san-bay-long-thanh-d116759.html

Nam Định vẫn gặp khó trong xử lý rác thải, nước thải

đăng 00:32, 24 thg 2, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 00:32, 24 thg 2, 2020 ]

    Quỹ đất để chôn lấp rác rất hạn chế, một số địa phương tại tỉnh Nam Định đã lắp đặt lò đốt chất thải rắn sinh hoạt nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường. Trong khi đó, môi trường vẫn phải gánh chịu thêm lượng nước thải chưa được xử lý từ các khu công nghiệp, chế xuất, làng nghề. Theo UBND tỉnh Nam Định, quỹ đất dành cho việc xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp rất hạn chế. Đối với khu vực thành phố Nam Định, Khu liên hợp xử lý rác thải Lộc Hòa đến nay đã hết quỹ đất dành cho chôn lấp, hiện đang sử dụng 3 hố chôn lấp dự phòng và dự kiến không lâu nữa sẽ đầy. Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra cho khu vực thành phố Nam Định là mở rộng khu xử lý hoặc áp dụng xử lý rác thải theo công nghệ tiên tiến.

rac-thai-tai-Nam-Dinh

    Còn tại khu vực nông thôn, việc đầu tư xây dựng các khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung gặp khó khăn về tìm vị trí phù hợp theo QCVN 07-9:2016/BXD của Bộ Xây dựng quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình quản lý chất thải rắn và nhà vệ sinh công cộng. Bởi theo quy định này, khoảng cách an toàn về môi trường của cơ sở xử lý chất thải rắn đến chân các công trình xây dựng khác ≥ 500m.

    Trong khi đó, việc vận hành các bãi chôn lấp hợp vệ sinh không hiệu quả. Bãi chôn lấp nhanh đầy, rác thải không được xử lý triệt để, hệ thống xử lý nước rỉ rác bị hỏng, tắc nghẽn dẫn đến ô nhiễm môi trường cục bộ và kiến nghị của nhân dân. Bên cạnh đó, chi phí xử lý rác thải sinh hoạt rất lớn, việc thu kinh phí từ các hộ dân, cơ quan, tổ chức chỉ đáp ứng được một phần cho phí thu gom rác thải.

    Do tồn tại, bất cập của bãi chôn lấp rác thải nên dẫn đến xu hướng các địa phương chuyển sang đầu tư xây dựng, lắp đặt lò đốt chất thải rắn sinh hoạt để xử lý rác thải triệt để hơn. Tuy nhiên, giai đoạn trước năm 2016, các lò đốt lắp đặt chủ yếu vào thời điểm Bộ TN&MT chưa ban hành QCVN 61-MT:2015/BTNMT nên chưa được kiểm định kiểm duyệt, chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường. Mặt khác kinh phí sự nghiệp môi trường của các địa phương thấp, không đáp ứng cho việc cải tạo lò đốt theo quy định.

    Đáng lưu ý, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch chất thải rắn vùng, tỉnh Nam Định tại  Quyết định số 3053/QĐ-UBND ngày 23/12/2016 nhưng đến nay vẫn chưa triển khai thực hiện được do không nhận được sự đồng thuận của nhân dân khi xây dựng khu xử lý rác thải tại địa phương mình.

    Môi trường vẫn “gánh” xả thải trực tiếp

    Cùng với áp lực trong xử lý chất thải rắn, Nam Định còn gặp nhiều khó khăn trong xử lý nước thải.

    Ngay tại Thành phố Nam Định, lượng nước thải phát sinh từ hoạt động dân sinh khoảng 50.000 m3/ngày đêm được thu gom và thải ra sông Hồng qua trạm bơm Quán Chuột và ra sông Đào qua trạm bơm Kênh Gia đã làm ô nhiễm cục bộ chất lượng nước mặt tại khu vực tiếp nhận nước thải của 2 sông này.

song-tai-Nam-Dinh

    Còn tại các khu công nghiệp (KCN), với 3 KCN đang hoạt động là Hòa Xá, Mỹ Trung và Bảo Minh thì chỉ có 2/3 KCN có trạm xử lý nước thải tập trung. KCN Mỹ Trung chưa có trạm xử lý nước thải tập trung do chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN đang tạm dừng hoạt động đợi chuyển giao chủ đầu tư mới; hệ thống thu gom nước mưa, nước thải chung của KCN chưa đầu tư hoàn thiện trước khi thải ra ngoài môi trường. Nước thải của các nhà đầu tư thứ cấp trong KCN phải tự xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo cam kết trong hồ sơ pháp lý về môi trường đã được phê duyệt, xác nhận.

    Tại các CCN, 19/20 CCN của tỉnh đã được phê duyệt hồ sơ pháp lý về bảo vệ môi trường và đi vào hoạt động; trong đó, có 9/19 CCN đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải hoặc có biện pháp xử lý nước thải tập trung trước khi thải ra ngoài môi trường, còn lại 11 CCN chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải do không bố trí được kinh phí đầu tư.

    Chung tình trạng, tại các làng nghề, nhiều làng nghề chưa có hệ thống thu gom nước thải tách biệt với hệ thống thu gom nước mưa; chưa có biện pháp xử lý nước thải trước khi xả thải ra ngoài môi trường. Môi trường đất, sông, hồ...vẫn là điểm tiếp nhận nguồn nước thải chưa qua xử lý này./.


    Nguồn: baotainguyenmoitruong.vn/nam-dinh-van-gap-kho-trong-xu-ly-rac-thai-nuoc-thai-298853.html

Xây cống gom nước thải, sông Tô Lịch sẽ… trơ đáy

đăng 01:09, 13 thg 2, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 01:10, 13 thg 2, 2020 ]

    Dự kiến, gần 12 km cống sẽ chạy ngầm dưới đáy sông Tô Lịch, dẫn nước thải về nhà máy Yên Xá để xử lý. GS Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam lo lắng sông Tô Lịch sẽ cạn trơ đáy do không còn nước lưu thông.

    Ngày 4/2, tại cuộc kiểm tra tiến độ dự án hệ thống xử lý nước thải Yên Xá ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (nhà máy nước thải Yên Xá), Chủ tịch TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết, ngày 7/2 thành phố sẽ nghe các bên liên quan thuyết minh phương án thi công cống thu gom nước thải, đặc biệt là cống gom dọc sông Tô Lịch.

song-To-Lich

    Dự án nhà máy nước thải Yên Xá bao gồm cơ sở xử lý nước thải công suất 270.000 m3/ngày đêm và hệ thống cống thu gom, cống bao, đấu nối dọc bờ sông Tô Lịch, sông Lừ và một phần khu vực quận Hà Đông. Tổng chiều dài các loại cống hơn 52 km.

    Theo kế hoạch, 65% hệ thống cống sẽ được đi ngầm giữa sông, 35% cống đào mở.Trong đó, riêng hệ thống cống thu gom nước thải của sông Tô Lịch dài trên 21 km, gần 13 km đi ngầm, hơn 8 km đào mở. Nhà thầu Nhật Bản đã trúng thầu thi công gói thầu này. Thời gian khởi công dự kiến cuối quý I/2020 và hoàn thành trong 48 tháng.

    GS.TS Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi bày tỏ sự lo lắng về giải pháp công nghệ này. “Ngay sau khi đọc được thông tin này, một kỹ sư chuyên ngành nước thải có gọi điện cho tôi nói rằng, tôi cần phải lên tiếng để Hà Nội có giải pháp đúng đắn trong vấn đề xử lý nước thải.

    Bởi theo các nghiên cứu từ trước đến nay, sông Tô Lịch “sống” được là nhờ có nguồn nước thải bổ cập ra hàng ngày. Nếu thu gom tất cả nước thải về Nhà máy nước Yên Xá đồng nghĩa sẽ không còn nước bổ cập cho sông Tô Lịch nữa.

    Nguy cơ là sông Tô Lịch sẽ cạn trơ đáy. Hơn nữa, ô nhiễm ở sông Tô Lịch hiện nay phần lớn vì nước bẩn tích tụ cùng bùn lắng lâu năm không được nạo vét sạch, chứ nước thải sinh hoạt thông thường thì không bẩn đến thế”, GS.TS Vũ Trọng Hồng chia sẻ.

    Bài toán khó ở đây chính là lấy nguồn nước nào để bổ cập cho sông Tô Lịch sau khi đã thu gom hết nước thải? Chắc chắn không thể thiết kế vòng tuần hoàn nước sau khi xử lý lại chảy về thượng nguồn vì đặc điểm sông Tô Lịch là độ dốc cao, kéo dài trong đô thị.

    Nếu xây dựng hệ thống này đòi hỏi phải làm cống riêng, với chi phí rất cao. Còn nếu không, toàn bộ nước thải đã xử lý từ Nhà máy nước Yên Xá sẽ xả thẳng ra sông Nhuệ và sông Đáy. Như vậy, sông Tô Lịch không được hưởng lợi gì từ công nghệ này. Trong khi đó, phương án bổ cập nước từ sông Hồng hay từ Hồ Tây là không khả thi và cũng chưa thực hiện. “Nếu xây dựng các trạm bơm nước ở sông Hồng vào thì không ổn vì mực nước sông Hồng hiện rất thấp, dòng chảy không ổn định. Hiện hạ du sông Hồng nhu cầu nước tưới tiêu, hoa màu lại rất lớn.

    Càng không thể trông chờ xả nước từ Hồ Tây ra vì nước ở đây chỉ nhiều khi có mưa lớn kéo dài, thi thoảng mới xả nước. Chờ nguồn nước bổ cập tự nhiên từ mưa thì lại càng không, vì lượng mưa rất thấp. Mà một dòng sông thì không thể lúc có nước, lúc lại khô cạn”, GS.TS Vũ Trọng Hồng phân tích.

    Xử lý tại chỗ vẫn tốt nhất?

    GS.TS Vũ Trọng Hồng cho rằng, với 280 họng nước thải đang đổ ra sông Tô Lịch hiện nay, cách xử lý hợp lý nhất là xây dựng các trạm xử lý nước thải tại chỗ. Theo đó tại các họng nước này, tổ chức quây tôn hoặc xây lại để xử lý bằng đất hiếm hoặc công nghệ phù hợp.

    Nước sau xử lý đưa ngay ra sông Tô Lịch. Như thế thì vừa giải quyết được vấn đề ô nhiễm lại vừa duy trì được dòng chảy. Nó không tốn kém quá nhiều kinh phí cũng như thời gian xử lý.

    Trường hợp nếu bắt buộc phải xử lý nước thải trước khi đưa trở lại sông Tô Lịch thì có thể phải xây dựng nhà máy xử lý ở đầu nguồn. Để làm vậy, cần đến 280 đường ống thu gom ứng với 280 họng nước đang xả ra sông như hiện nay.

    Có vậy mới đưa nước thải về nhà máy. “Tôi cho rằng, chúng ta không nên bị lừa về mặt công nghệ mà cần tỉnh táo lựa chọn giải pháp phù hợp nhất. Chỉ sợ là đầu tư hàng trăm tỉ đồng mà rồi lại phải làm lại, không đạt hiệu quả như mong muốn, sông Tô Lịch không còn là sông nữa, thì rất đáng buồn”, GS Vũ Trọng Hồng chia sẻ.

    Theo GS Vũ Trọng Hồng, không bàn đến công nghệ nano bioreator của Nhật Bản mà cách làm của họ có thể áp dụng được. Đó là tiến hành xử lý tại chỗ thay vì dẫn hết nước xuống hạ lưu xử lý. Việc nạo vét sông, xây dựng các khu xử lý tại chỗ hoàn toàn có thể làm được bằng công nghệ trong nước.

    Nguồn: giaoducthoidai.vn/thoi-su/xay-cong-gom-nuoc-thai-song-to-lich-se-tro-day-4064369-b.html

Chủ tịch TP Hà Nội: Dự án làm sạch sông Tô Lịch không được chậm tiến độ

đăng 02:12, 4 thg 2, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 02:13, 4 thg 2, 2020 ]

    Sáng 4/2, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã đến thăm dự án nhà máy xử lý nước thải Yên Xá với công suất 270.000 mét khối một ngày đêm và hệ thống cống thu gom nước thải khoảng 200km để đưa nước thải về nhà máy xử lý. Theo lãnh đạo Hà Nội, nhà máy xử lý nước thải Yên Xá là phương án duy nhất xử lý được nước sông Tô Lịch. Dự án Hệ thống xử lý nước thải Yên Xá (Thanh Trì, Hà Nội) có tổng vốn đầu tư lên tới hơn chục nghìn tỷ đồng với mục tiêu hồi sinh loạt con sông ô nhiễm tại Hà Nội, trong đó có sông Tô Lịch.


    Theo báo cáo của chủ đầu tư, đến thời điểm này, tiến độ của 4 gói thầu đều đang được các đơn vị có liên quan kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo đúng tiến độ đề ra theo yêu của UBND TP cũng như JICA Việt Nam...

    Ông Keigo Hatta - Đại diện Nhà thầu của gói thầu số 1 cho biết, được sự quan tâm của TP Hà Nội, Văn phòng JICA Việt Nam và Ban QLDA Đầu tư xây dựng công trình cấp, thoát nước và môi trường Hà Nội, đến nay tiến độ của gói thầu đã bám sát được so với yêu cầu đề ra, mọi khó khăn, vướng mắc đều được Chủ đầu tư xử lý kịp thời.


    Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đánh giá cao tiến độ của nhà máy xử lý nước thải Yên Xá. Ông Chung nhận định: Xây dựng xong sẽ xử lý cơ bản nước thải sinh hoạt của quận Tây Hồ, Ba Đình, Thanh Xuân, Đống Đa, Cầu Giấy... cơ bản toàn bộ nước thải trên sông Tô Lịch được giải quyết 100%. Góp phần làm sống lại sông Tô Lịch, điều nhiều người dân thành phố mong đợi.

    Lãnh đạo Thành phố yêu cầu, dự án có diện tích  thi công rất rộng nên có thể đưa ra các giaỉ pháp thi công đồng bộ để đẩy nhanh tiến độ dự án. Nói về dự án này, Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung khẳng định không có công nghệ nào xử lý được 180.000 mét khối nước thải đang xả xuống sông Tô Lịch mỗi ngày, mà không thu gom.


    Ông Chung nhắc lại về việc dự án bị chậm trong đấu thầu, tuy nhiên đây cũng là việc đáng tuyên dương vì tuy chậm nhưng đảm bảo được nguyên tắc trong các dự án ODA, Ban quản lý dự án đã kiên quyết đình chỉ 2 nhà thầu bỏ thầu vượt mức do với dự toán. Lãnh đạo Hà Nội khẳng định: Gói thầu 3, 4 thi công hệ thống thu gom nước thải là quan trọng nhất do đó cần triển khai nhanh trong cuối tháng 2/2020.

    Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đánh giá cao tiến độ của nhà máy xử lý nước thải Yên Xá. Ông Chung nhận định: Xây dựng xong sẽ xử lý cơ bản nước thải sinh hoạt của quận Tây Hồ, Ba Đình, Thanh Xuân, Đống Đa, Cầu Giấy... cơ bản toàn bộ nước thải trên sông Tô Lịch được giải quyết 100%. Góp phần làm sống lại sông Tô Lịch, điều nhiều người dân thành phố mong đợi. 
4/4 gói thầu được đấu thầu xong, 2/4 gói đã được thi công, tiến độ đáp ứng được yêu cầu. 

    Trong quá trình đấu thầu kiên quyết đình chỉ 2 nhà thầu bỏ thầu vượt mức so với dự án. Tuy chậm đã đảm bảo được nguyên tắc trong các dự án ODA à không chấp nhận điều kiện đặc biệt để các nhà thầu bỏ thầu cao hơn so với dự toán. Đặc biệt tổng dự tóan 4 gói thầu giảm hơn 25 - 27% trên 12.000 tỷ so với hơn 16000 tỷ ban đầu. 

    Diện tích mặt bằng thi công rất rộng nên có thể đưa ra các giải pháp thi công đồng bộ. Theo thỏa thuận ban đầu, hoàn thành dự án năm 2021, xin điều chỉnh giữa năm 2022 tuy nhiên nếu thay đổi phương án thi công thì có thể sớm được. Nâng cao tỷ lệ xử lý nước thải TP. Vấn đề thứ 2: Các nhà thầu tăng cường trang thiết bị vật tư, nhân công để đẩy nhanh tiến độ thi công. 
    

    Gói thầu 3.4 thi công hệ thống thu gom nước thải là quan trọng nhất do đó 3 gói này cần khẩn trương thương thảo. Ngay trong cuối t2 bắt đầu thi công ngay, thi công trên diện rộng để đẩy nhanh tiến độ.

    Đề nghị BQL dự án cùng Sở KHĐT, Sở Xây dựng tập hợp toàn bộ thiết kế đường thu gom nước thải nghe vào 16 chiều thứ 6. 65% đi ngầm, 35% đào hở nên kiểm tra lại, nếu thực hiện toàn bộ thu gôm bằng cống hộp 2 đáy dưới lòng sông Tô Lịch có thể tiết kiệm, thi công nhanh hơn. 

    Nguồn: www.tienphong.vn/xa-hoi/chu-tich-ha-noi-du-an-lam-sach-song-to-lich-khong-duoc-cham-tien-do-1515608.tpo

Tại TP.HCM gom 3 nhà máy xử lý nước thải về một vị trí, tiết kiệm 88ha đất

đăng 22:58, 28 thg 1, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 23:00, 28 thg 1, 2020 ]

    UBND TP.HCM vừa gửi Bộ Xây dựng tờ trình thẩm định, phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị trên địa bàn. Theo đó, TP.HCM sẽ điều chỉnh các nhà máy lưu vực Tây Sài Gòn (quận Tân Phú), lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm (huyện Bình Chánh) và lưu vực Bình Tân (quận Bình Tân) như đã được phê duyệt trước đây theo hướng gom 3 nhà máy về 1 nhà máy đặt tại Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa (khu xử lý sinh học hiện hữu tại quận Bình Tân).

kiem-tra-duong-ong-xu-ly-nuoc-thai

    Nhà máy này có chức năng xử lý nước thải cho 53 phường thuộc 9 quận, huyện TP.HCM trên khu vực rộng khoảng 91,5km2. Theo UBND TP.HCM, việc điều chỉnh này đem lại hiệu quả to lớn về kinh tế - xã hội cho TP nói chung và khu vực dự án nói riêng.

 Cụ thể, theo tính toán sơ bộ, việc không xây dựng nhà máy nước thải lưu vực Tây Sài Gòn (11ha) và lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm (77ha) theo quy hoạch sẽ tiết kiệm được 88ha đất. Do đó, khi triển khai dự án sẽ không phải tốn kém việc đền bù giải phóng mặt bằng.

 Mặt khác, TP.HCM cũng đánh giá một nhà máy có thể dễ dàng áp dụng các công nghệ hiện đại hơn về xử lý nước thải, xử lý mùi triệt để… và cùng với đó là giảm chi phí và đẩy nhanh việc lập thủ tục đầu tư.

    Nguồn: tuoitre.vn
 

Nhà máy xử lý nước thải xả trộm ra môi trường: Đường cống ngầm tinh vi

đăng 20:04, 6 thg 1, 2020 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 20:04, 6 thg 1, 2020 ]

    Liên quan đến vụ Nhà máy xử lý nước thải KCN Đồng An 1 xả nước thải ra môi trường bằng đường cống ngầm sâu 4 m, bước đầu, chủ đầu tư là Công ty CP Hưng Thịnh thừa nhận “lỗi hoàn toàn của nhà máy”.  

    Ngày 2.1, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C05, Bộ Công an) tiếp tục làm rõ việc lắp đặt đường cống ngầm tại Nhà máy xử lý nước thải KCN Đồng An 1 (P.Bình Hòa, TX.Thuận An, Bình Dương) với sự chứng kiến của đại diện Sở TN-MT Bình Dương.

nha-may-xa-trom-tinh-vi

    Hệ thống xả trộm được đặt rất tinh vi

    Theo đại diện C05, thực hiện kế hoạch cao điểm tấn công trấn áp tội phạm bảo vệ Tết Canh Tý 2020, các trinh sát đã mất rất nhiều thời gian để mai phục, điều tra, thu thập chứng cứ mới có thể bắt quả tang việc xả thải của nhà máy này. Tại nhà máy xử lý nước thải có camera quan sát và hệ thống quan trắc tự động của Sở TN-MT Bình Dương nhưng đường cống ngầm được thiết kế hết sức tinh vi và khó có thể phát hiện được. Nước thải không qua xử lý được xả qua đường cống ngầm, khi ra khỏi nhà máy thì nhập vào đường thoát nước thải của KCN Đồng An 1, sau đó đổ ra kênh D rồi ra sông Sài Gòn.

cong-an-c05-kiem-tra-cong-ngam

    Sáng cùng ngày, dưới sự chứng kiến của đại diện Công ty CP Hưng Thịnh (chủ đầu tư KCN Đồng An và Nhà máy xử lý nước thải KCN Đồng An 1) và Sở TN-MT Bình Dương, đại diện C05 đã cho mở một đoạn đường cống ngầm ở bên ngoài nhà máy xử lý nước thải, được thiết kế nằm bên dưới đường thoát nước thải đã qua xử lý của KCN.

    Nguồn: thanhnien.vn/thoi-su/vu-nha-may-xu-ly-nuoc-thai-xa-trom-ra-moi-truong-duong-cong-ngam-tinh-vi-1167615.html

Lập biên bản doanh nghiệp xả trộm nước thải ra suối Dụ - Hòa Bình

đăng 20:02, 29 thg 12, 2019 bởi Trần Ngọc Toàn   [ đã cập nhật 20:02, 29 thg 12, 2019 ]

    Ngày 28/12, Công an huyện Kỳ Sơn đã cử cán bộ phối hợp cùng cán bộ phụ trách môi trường xã Mông Hóa đến kiểm tra và lập biên bản hành vi xả trộm nước thải ra suối Dụ của Công ty TNHH Hồng Cơ.

    Thời gian gần đây, người dân xóm Dụ Phượng (xã Mông Hóa, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình) liên tục phản ánh về việc Công ty TNHH Hồng Cơ do ông Trần Văn Hạnh làm Giám đốc xả trộm nước thải ra suối Dụ. Công ty TNHH Hồng Cơ được Công ty TNHH Chế biến nông sản Hoàng Loan thuộc Khu công nghiệp Mông Hóa (Kỳ Sơn) cho thuê lại với ngành nghề sản xuất giấy đế và chế biến một số đồ dùng bằng gỗ.

xa-thai-ra-suoi-du

    Theo người dân xóm Dụ Phượng, việc xả trộm nước thải ra dòng suối Dụ dẫn đến việc cá, cua và các loài sinh sống ở suối Dụ bị chết hết; làm ảnh hưởng tới nguồn nước tưới rau và hoa màu của bà con. Ngoài ra, dòng suối Dụ chảy ra sông Đà sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cung cấp cho phía hạ lưu. 

    Anh Nguyễn Minh Phúc, công nhân Công ty cơ khí Tuệ Đông cho biết: Tôi thường xuyên chứng kiến việc Công ty TNHH Hồng Cơ xả thải ra suối Dụ, bọt nước trắng xóa như xà phòng chảy dài dọc suối, gây ô nhiễm trực tiếp nguồn nước và có mùi khó chịu gây buồn nôn.

    Tiếp nhận phản ánh của người dân, ngày 28/12, Công an huyện Kỳ Sơn đã cử cán bộ phối hợp cùng cán bộ phụ trách môi trường xã Mông Hóa đến kiểm tra và lập biên bản hành vi xả trộm nước thải ra suối Dụ của Công ty TNHH Hồng Cơ.

    Tại thời điểm kiểm tra, các công nhân Công ty đang vận hành máy tại xưởng; lượng nước thải lớn sát chân tường của xưởng gần kề với suối có màu vàng, sủi bọt trắng. Đoàn kiểm tra yêu cầu Công ty TNHH Hồng Cơ dừng ngay việc sản xuất và xả thải ra suối làm ảnh hưởng đến môi trường và nguồn nước tưới tiêu của bà con xung quanh; đồng thời cam kết không tái phạm, nếu còn tái phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

    Theo ông Đinh Văn Long, Trưởng xóm Dụ Phượng, người dân đã nhiều lần kiến nghị về việc xả trộm nước thải của Công ty lên cấp có thẩm quyền. Người dân mong muốn các cơ quan chức năng sớm vào cuộc, xử lý dứt điểm việc xả thải ra suối Dụ của Công ty TNHH Hồng Cơ.

    Theo biên bản của Đoàn kiểm tra môi trường, ngày 31/12/2019 tới, Giám đốc Công ty TNHH Hồng Cơ phải có mặt tại UBND xã Mông Hóa, huyện Kỳ Sơn để giải trình và khắc phục triệt để việc xả thải môi trường hiện nay./.

    Nguồn: bnews.vn/hoa-binh-lap-bien-ban-doanh-nghiep-xa-trom-nuoc-thai-ra-suoi-du/143723.html

1-10 of 132